“VỐN ĐIỀU LỆ ẢO” VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ

Nguyên tắc chungNghiêm cấm kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị – KHOẢN 5 ĐIỀU 16
  Đối với công ty TNHHThời hạn góp vốn đối với Công ty TNHH: trong 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản – KHOẢN 2 ĐIỀU 47
  Đối với công ty Hợp danhĐối với thành viên sáng lập (TV hợp danh + TV góp vốn): Không có quy định cụ thể về thời hạn góp vốn (!!!) Đối với thành viên mới: 15 ngày kể từ khi được HĐTV chấp nhận hoặc một thời hạn khác do HĐTV quyết định – KHOẢN 2 ĐIỀU 186
  Đối với Công ty Cổ phần  Thời hạn góp vốn Công ty Cổ phần: trong 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thời gian vận chuyển nhập khẩu, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản đó không tính vào thời hạn góp vốn này – KHOẢN 1 ĐIỀU 113
      Hậu quả pháp lý  ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH: Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty; Thành viên góp chưa đủ thì có quyền tương ứng với phần vốn đã góp- Khoản 3 Điều 47ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN: Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác – điểm a Khoản 3 Điều 113 NGOÀI RA: Buộc phải thực hiện giảm vốn điều lệ nếu không góp đủ, đúng thời hạn:  điểm c Khoản 3 Điều 68 (Công ty TNHH); – điểm c Khoản 5, Điều 112 (Công ty Cổ Phần); Trách nhiệm cá nhân: Bồi thường thiệt hại do không góp đủ/không góp dẫn đến gây thiệt hại cho công ty: – Khoản 4 Điều 113 (Công ty Cổ Phần); – Khoản 4 Điều 47 (Công ty TNHH)
Nghị định số 122/2021/NĐ-CP
      XỬ PHẠT HÀNH VI “KÊ KHAI KHỐNG”  1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị dưới 10 tỷ đồng. 2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 10 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng. 3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 20 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng. 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng. 5. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên. (ĐIỀU 47- Nghị định 122)
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤCBuộc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng với số vốn thực góp đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều này (ĐIỀU 47- Nghị định 122)
XỬ PHẠT HÀNH VI “KHÔNG THỰC HIỆN THỦ TỤC ĐIỀU CHỈNH VỐN…. DO KHÔNG GÓP ĐỦ VỐN ĐIỀU LỆ”Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Không thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn hoặc thay đổi thành viên, cổ đông sáng lập theo quy định tại cơ quan đăng ký kinh doanh khi đã kết thúc thời hạn góp vốn và hết thời gian điều chỉnh vốn do thành viên, cổ đông sáng lập không góp đủ vốn nhưng không có thành viên, cổ đông sáng lập nào thực hiện cam kết góp vốn – điểm a Khoản 3 Điều 46 NĐ 122

Bình luận:

Tại Khoản 5 Điều 16 Luật doanh nghiệp 2020 đã liệt kê những hành vi bị nghiêm cấm, theo đó “Kê khai khống” và “không góp đủ” là hai hành vi độc lập với nhau. Do vậy hai khái niệm “Kê khai khống” và “không góp đủ” cũng sẽ có nội hàm khác nhau. Khái niệm không góp đủ thì đã rõ nghĩa nên không cần giải thích gì thêm. Khái niệm “Kê khai khống” thì có cái để bàn! (chưa có giải thích của Luật)

Có thể hiểu: Kê khai khống nghĩa là Thành viên, cổ đông sáng lập sau khi đã hết thời hạn góp vốn theo luật định nhưng vẫn chưa góp một đồng nào. Chữ “Khống” có nghĩa là không có thật, chẳng hạn như: Vu khống- gán cho ai làm điều gì đó mà họ thực sự không làm.

Nếu theo cách hiểu này thì việc bắt lỗi một trường hợp “kê khai khống” trên thực tế sẽ vô cùng khó vì chỉ cần có bất kỳ một khoản tiền góp vốn nào vào công ty cũng sẽ được tính là đã góp nhưng chỉ là góp chưa đủ! Lúc đó muốn xử lý thì chỉ có thể chuyển qua hành vi “không góp đủ”. Tuy nhiên, Nghị định 122 lại không xử phạt hành vi “góp không đủ” mà chỉ xử phạt hành vi “không thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn … do không góp đủ vốn”.

Mục đích của luật thì đã rõ ràng: Muốn minh bạch và trung thực trong hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên kể từ khi luật doanh nghiệp 2005 ra đời cho đến nay qua nhiều lần thay đổi luật thì dường như vấn đề “Vốn điều lệ ảo” vẫn chưa có được một giải pháp triệt để.

Phải chăng chúng ta nên nhìn theo hướng vốn điều lệ như là một cam kết giới hạn trách nhiệm của thành viên, cổ đông sáng lập đối với công ty? Thực tế Luật doanh nghiệp 2005 có vẻ như đã đưa ra giải pháp theo hướng như vậy, tại Khoản 2 Điều 39 đã quy định “Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty…”. Suy rộng ra thì dường như Luật doanh nghiệp 2005 đã ngầm chấp nhận sự tồn tại “vốn điều lệ ảo” (?)

Về công ty hợp danh: Đối với công ty hợp danh thì luật không có quy định cụ thể về thời hạn góp vốn của các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Lý do có thể vì Công ty Hợp danh là một loại hình doanh nghiệp đối nhân (Công ty được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc chính: lòng tin của các thành viên hợp danh với nhau), với trách nhiệm của các thành viên là “không có giới hạn” trước các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của công ty.