Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Bảo hộ quyền tác giả là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người tạo ra tác phẩm và giá trị của tác phẩm đó. Tuy nhiên, trong quá trình đăng kí bảo hộ quyền tác giả, còn nhiều trường hợp không được cấp văn bằng bảo hộ do không đáp đáp ứng điều kiện. Bởi vậy, trong bài viết này, tác giả đề cập đến vấn đề: “Điều kiện để một tác phẩm được đăng ký bảo hộ quyền tác giả”
- Cơ sở pháp lý: Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 và 2019 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT 2005); Nghị định 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.
- Tác phẩm là gì?
Theo khoản 7 Điều 4 Luật SHTT 2005:
Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
Quyền tác giả là gì?
Theo khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo được quy đinh tại Điều 19, 20 Luật SHTT 2005.
- Đối với quyền nhân thân của tác giả bao gồm các quyền:
- Đặt tên cho tác phẩm;
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm. Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
- Công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm;
- Bảo vệ sự vẹn toàn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm sẽ có các quyền nhân thân đối với tác phẩm bao gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung của tác phẩm.
Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thỏa thuận khác; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác.
- Đối với quyền tài sản của tác giả bao gồm các quyền:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
- Sao chép tác phẩm;
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối với tác phẩm mà mình là tác giả gồm: được hưởng nhuận bút; được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả.
Chủ sở hữu không đồng thời là tác giả được hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê.
- Điều kiện để một tác phẩm được đăng ký bảo hộ quyền tác giả
- Điều kiện bảo hộ quyền tác giả chung
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
Như vậy, Để được đăng ký bản quyền tác giả thì tác phẩm phải đáp ứng những điều kiện bảo hộ quyền tác giả nhất định như sau:
- Tác phẩm phải có tính sáng tạo: Trong các văn bản pháp luật quốc tế và văn bản pháp luật của Việt Nam đều chưa có một quy định cụ thể về tính sáng tạo của tác phẩm. Tuy nhiên, căn cứ theo Hiệp định TRIPS và Công ước Berne thì mỗi quốc gia thành viên được quyền tự quyết trong việc xác định mức độ sáng tạo cần thiết để sản phẩm trí tuệ được bảo hộ quyền tác giả mà theo đó cần thoả mãn tính sáng tạo trí tuệ (intellectual creation), được quy định thành tính sáng tạo (creativity) hoặc tính nguyên gốc (originality). Quy định về tính sáng tạo của tác phẩm trong pháp luật Việt Nam có thể được hiểu là hoạt động sáng tạo trí tuệ được tạo ra lần đầu tiên và trực tiếp bởi tác giả, không sao chép từ các tác phẩm của người khác.
- Phải được thể hiện dưới các hình thức vật chất nhất định : Mọi sản phẩm sáng tạo trí tuệ đều bắt đầu từ ý tưởng sáng tạo. Những ý tưởng này chỉ là tư duy nên con người chỉ có thể tiếp cận và sử dụng những ý tưởng sáng tạo nếu những ý tưởng sáng tạo được bộc lộ và chứa đựng dưới phương tiện và hình thức nhất định. Do đó, Luật sở hữu trí tuệ không bảo hộ ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng. Hay nói cách khác là chỉ bảo hộ sản phẩm đã được thể hiện dưới một dạng hình thức, vật chất nhất định. Sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học chỉ được công nhận là tác phẩm nếu được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định (hay còn được gọi là vật chất hóa). Ví dụ: tác phẩm thơ, truyện thể hiện dưới dạng những trang viết; tác phẩm điện ảnh dưới dạng các thước phim,…
- Điều kiện về chủ thể
Căn cứ vào nội dung tại Điều 13 Luật SHTT 2005 thì tổ chức và cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm: người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả (chủ sở hữu quyền tác giả được quy định tại Điều 37 – Điều 42 Luật SHTT 2005).
Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trên đây bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam và chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác;
- Tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Điều kiện về loại hình tác phẩm được bảo hộ
Theo Điều 14 Luật SHTT 2005, Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học có đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Tác phẩm khoa học, văn học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc là ký tự khác
- Bài giảng và bài phát biểu, bài nói khác
- Tác phẩm báo chí
- Tác phẩm âm nhạc
- Tác phẩm sân khấu
- Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra dựa theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh)
- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng
- Tác phẩm nhiếp ảnh
- Tác phẩm kiến trúc
- Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến kiến trúc, địa hình, công trình khoa học
- Tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian
- Chương trình máy tính và các sưu tập dữ liệu.
Tác phẩm phái sinh ở đây chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với các tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
Tác phẩm được bảo hộ nêu trên đây phải được tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không được sao chép từ tác phẩm của người khác.
Bên cạnh đó, Luật SHTT cũng quy định các đối tượng không thuộc phạm vi đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả như là :
- Tin tức bản tin thời sự thuần túy đưa tin.
- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp, văn bản hành chính và các bản dịch chính thức của văn bản đó.
- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động và khái niệm, nguyên lý, số liệu.